Thứ năm, 14 tháng 11 năm 2019

Có được chuyển nhượng đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu?

Có được chuyển nhượng đất nhỏ hơn diện0936.45.89980936.45.8998 tích tối thiểu? Câu hỏi trên được đặt ra khi Các giao dịch liên quan tới việc tự ý tách thửa đất mà trong đó có ít nhất

LẬP VI BẰNG CHUYỂN NHƯỢNG 1.5m2 ĐẤT

Có được chuyển nhượng đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu? Câu hỏi trên được đặt ra khi Các giao dịch liên quan tới việc tự ý tách thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không được công chứng.

Khoản 2 Điều 29 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định các giao dịch liên quan tới việc tự ý tách thửa đất mà trong đó có ít nhất một thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ không được công chứng, chứng thực và không thể thực hiện các thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất được.
Do đó, việc mua bán một phần thửa đất có diện tích nhỏ hơn diện tích tối thiểu thì không thể đảm bảo về mặt pháp lý cho thửa đất đó.

Các chủ thể chỉ có thể thực hiện các thủ tục pháp lý đối với thửa đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu trong trường hợp việc tách thửa này đồng thời với việc xin được hợp thửa đất đó với thửa đất khác liền kề để tạo thành thửa đất mới có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích tối thiểu.

Như vậy, nếu muốn thực hiện giao dịch chuyển nhượng đất nhỏ hơn diện tích tối thiểu và có thể tránh được phần nào hạn chế rủi ro xảy ra, có thể thông qua cách thức lập vi bằng.

Theo quy định tại khoản 8, điều 2 Nghị định số 135/2013/NĐ-CP sửa đổi một số điều nghị định số 61/2009/NĐ-CP về thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng của văn phòng Thừa phát lại:

“Điều 25. Thẩm quyền, phạm vi lập vi bằng

1. Thừa phát lại có quyền lập vi bằng đối với các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của đương sự, trừ các trường hợp quy định tại Điều 6 của Nghị định này; các trường hợp vi phạm quy định về bảo đảm an ninh, quốc phòng; vi phạm bí mật đời tư theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật dân sự; các trường hợp thuộc thẩm quyền công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc thuộc thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân các cấp và các trường hợp khác theo quy định pháp luật.

2. Thừa phát lại được lập vi bằng các sự kiện, hành vi xảy ra trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại”.

Do đó, văn phòng thừa phát lại có thể lập vi bằng với sự kiện mua bán đất (chuyển quyền sở hữu đất) trong trường hợp này. Giá trị pháp lý của vi bằng do Thừa phát lại lập được quy định tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP:

“1. Vi bằng có giá trị chứng cứ để Tòa án xem xét khi giải quyết vụ án.

2. Vi bằng là căn cứ để thực hiện các giao dịch hợp pháp khác theo quy định của pháp luật”.

Tức là trong giao dịch mua bán đất sẽ phát sinh nghĩa vụ giao nhận tiền và nhận giấy tờ. Do đó, các bên liên quan cần lập vi bằng xác nhận việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, xác nhận về việc đã giao nhận tiền và giấy tờ để chứng minh khi cần thiết. Việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, việc giao nhận tiền, giao nhận giấy tờ nhà đất được thực hiện trước sự chứng kiện của Thừa phát lại. Đây là chứng cứ ghi nhận việc hai bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên mua giao tiền cho bên bán và bên bán giao giấy tờ cho bên mua.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, giá trị của vi bằng giao nhận tiền, giao nhận giấy tờ, nhà đất không có giá trị thay thế văn bản công chứng, chứng thực mà vi bằng có giá trị chứng cứ trước Tòa và các quan hệ pháp lý khác, dùng để chứng minh việc các bên đã giao nhận tiền, giao nhận giấy tờ, nhà đất… làm cơ sở để các bên tiếp tục thực hiện hợp đồng, hoàn thiện hợp đồng theo quy định của pháp luật, hoặc là cơ sở để giải quyết khi có tranh chấp xảy ra.

 

Liên hệ: 0936458998